Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập một

Giải Bài 3 trang 28 SGK Ngữ văn 12

Thực hành tiếng Việt: Nghịch ngữ   Gợi ý trả lời

Đề bài

NGỮ LIỆU: a. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền.
(Nguyễn Tuân, Người lái đò Sông Đà)

b. Trong lúc ấy, ông nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vội vàng lấy bút máy và sổ tay ra ghi chép, coi những lời lẽ quý hoá ấy tựa hồ bật ở miệng một vĩ nhân mà ra…
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

Phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng nghịch ngữ trong các trường hợp sau:

a. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền.
(Nguyễn Tuân, Người lái đò Sông Đà)

b. Trong lúc ấy, ông nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vội vàng lấy bút máy và sổ tay ra ghi chép, coi những lời lẽ quý hoá ấy tựa hồ bật ở miệng một vĩ nhân mà ra…
(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

Gợi ý trả lời

Nhắc lại khái niệm: Nghịch ngữ là biện pháp tu từ kết hợp các từ ngữ biểu thị những khái niệm trái ngược nhau (hoặc đặt cạnh nhau những đặc điểm tưởng như loại trừ nhau) trong cùng một cấu trúc, nhằm tạo ra một cách diễn đạt mới lạ, giàu sức gợi và thường mang sắc thái trào phúng hoặc tô đậm ấn tượng.

a. *Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông… ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này…* (Nguyễn Tuân)

- Xác định nghịch ngữ: cụm từ "ầm ầm mà quạnh hiu". Đây là hai đặc điểm trái ngược nhau được đặt cạnh nhau: *ầm ầm* gợi âm thanh dữ dội, ồn ào của thác nước, sóng và đá; còn *quạnh hiu* lại gợi sự vắng lặng, hoang vu, không bóng người.

- Hiệu quả nghệ thuật:
+ Sự kết hợp trái ngược ấy khắc họa chính xác một không gian đặc biệt của Sông Đà: nơi thiên nhiên gào thét dữ dội ("ầm ầm") nhưng vẫn hoàn toàn hoang vắng, tách biệt với con người ("quạnh hiu"). Cái ồn ào của tự nhiên càng làm nổi bật sự cô quạnh, hiểm trở của khúc sông.
+ Nghịch ngữ tô đậm vẻ hung bạo, dữ dằn và đầy đe dọa của Sông Đà; kết hợp với các từ ngữ nhân hóa ("mai phục", "nhổm cả dậy", "vồ lấy thuyền") khiến đá sông hiện lên như một đội quân mai phục nham hiểm, chực chờ tiêu diệt con thuyền.
+ Cách diễn đạt mới lạ này thể hiện tài quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, độc đáo của Nguyễn Tuân, đem lại ấn tượng mạnh và cảm giác vừa kì thú vừa rợn ngợp cho người đọc.

b. *…ông nhà báo cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình vội vàng lấy bút máy và sổ tay ra ghi chép…* (Vũ Trọng Phụng)

- Xác định nghịch ngữ: cụm từ "cấp tiến với xã hội và bảo thủ với gia đình". *Cấp tiến* (đề cao cái mới, tiến bộ, cải cách) và *bảo thủ* (giữ nếp cũ, lạc hậu) là hai phẩm chất, hai thái độ trái ngược, loại trừ nhau, nhưng lại cùng tồn tại trong một con người.

- Hiệu quả nghệ thuật:
+ Nghịch ngữ vạch trần bản chất mâu thuẫn, lố bịch và giả dối của nhân vật: bề ngoài rao giảng, cổ vũ cho "văn minh", "tiến bộ" ngoài xã hội, nhưng trong gia đình lại vẫn ích kỉ, hủ lậu, giữ đúng nếp phong kiến — nghĩa là kẻ "cấp tiến" chỉ là cái vỏ ngoài đãi bôi.
+ Đây là thủ pháp trào phúng sắc bén: chỉ bằng một cụm từ ngắn gọn, tác giả lột tả trọn vẹn thói đạo đức giả, sự "nói một đằng làm một nẻo" của tầng lớp trí thức "Âu hóa" nửa mùa trong xã hội thượng lưu thành thị đương thời.
+ Kết hợp với giọng điệu mỉa mai ("những lời lẽ quý hoá ấy tựa hồ bật ở miệng một vĩ nhân"), nghịch ngữ tạo tiếng cười châm biếm, thể hiện thái độ phê phán, đả kích của Vũ Trọng Phụng đối với cái xã hội "chó đểu", giả dối trong *Số đỏ*.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.