Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập một

Giải Câu 6 trang 45 SGK Ngữ văn 12

Văn bản Cảm hoài (Đặng Dung)   Gợi ý trả lời

Đề bài

Nêu một số biểu hiện của phong cách cổ điển trong bài thơ.
(văn bản: Cảm hoài – Đặng Dung)

Gợi ý trả lời

Nêu một số biểu hiện của phong cách cổ điển trong bài thơ *Cảm hoài* (Đặng Dung)

Phong cách cổ điển là kiểu sáng tác chịu ảnh hưởng của thi pháp văn học trung đại: trang trọng, hàm súc, giàu tính ước lệ – tượng trưng, hướng tới những giá trị khuôn mẫu và cái đẹp hài hòa, cao nhã. Trong *Cảm hoài*, phong cách ấy thể hiện qua những biểu hiện sau:

a) Thể thơ và hình thức tuân theo khuôn mẫu Đường luật

- Bài thơ được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật – thể thơ bác học, mực thước bậc nhất của văn học trung đại.
- Tuân thủ chặt chẽ các quy phạm cổ điển: niêm, luật, vần, đối (hai câu thực và hai câu luận đối nhau chỉnh tề), bố cục đề – thực – luận – kết. Sự cân đối, hài hòa về hình thức chính là một dấu hiệu tiêu biểu của tính cổ điển.

b) Hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng và tầm vóc vũ trụ

- Nhà thơ dựng nên những hình ảnh kì vĩ, có kích thước vũ trụ để biểu đạt tráng chí và nỗi lòng: "trời đất" (thiên địa), hoài bão muốn "nâng trục đất" (phù địa trục), muốn "kéo sông Ngân Hà rửa sạch giáp binh" (vãn thiên hà, tẩy binh)… Đây là những hình ảnh ước lệ mang tính khái quát cao, không tả thực mà gợi tầm vóc lớn lao của người anh hùng.
- Con người cá nhân được đặt trong tương quan với trời đất, thời cuộc – một cảm hứng vũ trụ đặc trưng của thơ cổ điển.

c) Sử dụng điển tích, điển cố

- Bài thơ vận dụng điển cố theo lối "nói bằng điển" của thơ trung đại. Tiêu biểu là điển "đồ điếu" trong câu "Thời lai đồ điếu thành công dị" – nhắc tới những con người xuất thân thấp hèn (kẻ bán thịt, người câu cá, như Phàn Khoái, Hàn Tín) gặp thời mà nên nghiệp lớn, để làm nổi bật nỗi cay đắng của người anh hùng khi lỡ vận. Ngoài ra còn có điển gươm Long Tuyền (thanh bảo kiếm), hình ảnh mài kiếm dưới trăng, và điển "tẩy binh" (mượn ý thơ Đỗ Phủ: kéo sông Ngân Hà rửa sạch binh khí). Cách dùng điển khiến lời thơ hàm súc, trang nhã, giàu sức gợi.

d) Bút pháp tả cảnh ngụ tình, giọng điệu bi tráng, trang trọng

- Tác giả mượn hình ảnh ánh trăng, mái tóc bạc (đầu bạc), việc mài gươm trong đêm để kí thác tâm sự – đúng lối tả cảnh ngụ tình của thơ cổ điển.
- Giọng thơ bi tráng: vừa đau xót trước cảnh "anh hùng lỡ vận", tuổi già mà chí lớn chưa thành (quốc thù chưa báo, đầu đã bạc), vừa hào sảng, kiêu hùng. Chất bi mà không lụy, hùng mà thấm thía – một âm hưởng mang vẻ đẹp cao nhã, mực thước của thơ ca trung đại.

e) Cảm hứng và hình tượng người anh hùng mang tính lí tưởng

- Hình tượng trung tâm là người tráng sĩ – anh hùng với lí tưởng "phò vua giúp nước", mang vẻ đẹp khuôn mẫu, lí tưởng hóa; nỗi niềm cá nhân hòa vào vận mệnh đất nước. Đó là kiểu nhân vật trữ tình tiêu biểu của thơ ca cổ điển, thấm đẫm tinh thần "chí làm trai".

Tất cả những yếu tố trên – thể loại Đường luật mực thước, hình ảnh ước lệ – vũ trụ, điển cố hàm súc, bút pháp tả cảnh ngụ tình và giọng điệu bi tráng, trang trọng – tạo nên phong cách cổ điển đặc sắc của bài thơ *Cảm hoài*.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.