Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập một

Giải Bài 6 trang 48 SGK Ngữ văn 12

Tây Tiến (Quang Dũng)   Gợi ý trả lời

Đề bài

Phân tích một số hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt trong bài thơ Tây Tiến.
(văn bản: Tây Tiến - Quang Dũng)

Gợi ý trả lời

Phân tích một số hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt trong bài thơ _Tây Tiến_ (Quang Dũng)

Vẻ đẹp của _Tây Tiến_ không chỉ ở nội dung bi tráng mà còn ở cách Quang Dũng tổ chức ngôn ngữ đặc biệt, biến chất liệu ngôn từ thành âm nhạc và hình khối. Có thể phân tích qua một số hình thức tiêu biểu sau:

a) Phối hợp thanh điệu (bằng – trắc) để tạo nhạc tính và tạo hình

- Những câu dồn nhiều thanh trắc gợi sự gập ghềnh, hiểm trở của đường hành quân:
> _Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm_
> _Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống_
Các tiếng trắc (_dốc, khúc khuỷu, thẳm, thước, xuống_) tạo độ trúc trắc, nhấn mạnh địa hình dựng đứng, trùng điệp.
- Những câu dồn thanh bằng lại mở ra cảm giác mênh mang, êm dịu:
> _Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi_
> _Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa_
Chuỗi thanh bằng khiến câu thơ chùng xuống, giăng mắc một không gian sương mưa mịt mờ. Sự đối lập bằng – trắc tạo nhịp điệu lên – xuống, căng – chùng rất giàu nhạc tính.

b) Ngắt nhịp linh hoạt

Câu bảy chữ thường ngắt nhịp 4/3, nhưng Quang Dũng thay đổi cách ngắt để diễn tả cảm xúc và cảnh vật: nhịp gấp, gãy khúc ở đoạn tả núi đèo (_Ngàn thước lên cao / ngàn thước xuống_ — câu thơ bẻ gập như chính con dốc); nhịp trải dài, êm ái ở những câu thanh bằng, tạo dư ba.

c) Phép điệp (điệp từ, điệp cấu trúc)

- Điệp từ _dốc_ (_Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm_) nhân lên ấn tượng trùng điệp, bất tận của đèo cao.
- Điệp cấu trúc _ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống_ tạo thế đối xứng, dựng chiều cao và độ sâu chóng mặt.
- Nỗi _nhớ_ trở đi trở lại (_nhớ chơi vơi, nhớ ôi, nhớ về_) làm mạch cảm xúc hoài niệm xuyên suốt bài thơ.

d) Phép đối và đảo ngữ

- Phép đối trong một dòng (_Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống_) dựng hình khối tương phản.
- Đảo ngữ đưa yếu tố gợi cảm lên đầu câu để nhấn mạnh:
> _Heo hút cồn mây súng ngửi trời_
> _Rải rác biên cương mồ viễn xứ_
Việc đảo _heo hút_, _rải rác_ lên trước khiến sự hoang vu, quạnh hiu của không gian và những nấm mồ nơi biên ải hiện ra ngay từ đầu dòng thơ.

e) Sử dụng lớp từ Hán Việt trang trọng, cổ kính

Ở đoạn viết về sự hi sinh, Quang Dũng dùng dày các từ Hán Việt: _biên cương, viễn xứ, chiến trường, áo bào, độc hành, khúc độc hành_. Lớp từ này làm mờ cái bi thương trần trụi, nâng cái chết của người lính lên tầm trang nghiêm như hình tượng tráng sĩ xưa, tạo âm hưởng bi tráng đặc trưng:
> _Áo bào thay chiếu anh về đất_
> _Sông Mã gầm lên khúc độc hành_

g) Hệ thống địa danh và cách tạo hình, cường điệu, nhân hóa

- Chuỗi địa danh miền Tây (_Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu, Sầm Nứa_) vừa tạo màu sắc hiện thực của chặng hành quân, vừa gợi không gian xa xôi, hoang sơ.
- Lối dùng từ tạo hình, cường điệu, nhân hóa đậm chất lính và chất lãng mạn: _súng ngửi trời_ (nhân hóa, cường điệu độ cao và sự tinh nghịch), _gục lên súng mũ bỏ quên đời_, _Sông Mã gầm lên_ (nhân hóa dòng sông thành khúc tiễn đưa dữ dội, hào hùng).

→ Kết luận: Nhờ phối thanh, ngắt nhịp, điệp, đối, đảo ngữ, lớp từ Hán Việt cùng hệ thống địa danh và lối tạo hình độc đáo, Quang Dũng đã tổ chức ngôn ngữ thơ thành một chỉnh thể vừa giàu nhạc điệu vừa giàu chất họa, làm nên vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa bi tráng rất riêng của _Tây Tiến_.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.