Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập hai

Giải Bài 8 trang 21 SGK Ngữ văn 12

Mộ (Chiều tối) và Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) – Hồ Chí Minh   Gợi ý trả lời

Đề bài

Chỉ ra dấu ấn của phong cách cổ điển trong mỗi tác phẩm.
(văn bản: Mộ và Nguyên tiêu – Hồ Chí Minh)

Gợi ý trả lời

Yêu cầu: Chỉ ra dấu ấn của phong cách cổ điển trong từng tác phẩm *Mộ (Chiều tối)* và *Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng)* của Hồ Chí Minh.

*Lưu ý chung:* Phong cách cổ điển (chất Đường thi) thể hiện ở: thể thơ (tứ tuyệt chữ Hán), đề tài – thi liệu quen thuộc của thơ xưa (trăng, chim, mây, sông nước, chiều tà…), bút pháp chấm phá – gợi mà không tả, tả cảnh ngụ tình, cái tôi nhà thơ ung dung hòa hợp với thiên nhiên vũ trụ.

a) Dấu ấn cổ điển trong bài *Mộ (Chiều tối)*

- Thể thơ và ngôn ngữ: Bài thơ được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật – thể thơ cô đọng, hàm súc tiêu biểu của thơ cổ.
- Đề tài, thi liệu ước lệ: Chọn thời điểm chiều tối (buổi hoàng hôn) cùng những hình ảnh quen thuộc của thơ xưa: cánh chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ (*quyện điểu quy lâm*), chòm mây lẻ trôi chậm giữa tầng không (*cô vân mạn mạn*). Đây là những thi liệu cổ điển gợi cảnh chiều, gợi nỗi buồn xa xứ.
- Bút pháp chấm phá, gợi tả: Chỉ vài nét chấm phá (cánh chim, chòm mây) mà dựng lên cả không gian chiều rộng lớn, cao vời; tả ít mà gợi nhiều, lấy điểm tả diện theo lối Đường thi.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình, lấy không gian gợi thời gian: Không trực tiếp nói "trời tối" mà dùng hình ảnh lò than rực hồng (*hồng*) để gợi màn đêm đã buông – cách nói kín đáo, hàm súc. Cảnh vật nhuốm tâm trạng cô đơn, mỏi mệt của người tù trên đường chuyển lao.
- Phong thái của chủ thể trữ tình: Con người ung dung, hòa hợp, giao cảm với thiên nhiên vũ trụ, giữ cốt cách thi nhân xưa.

b) Dấu ấn cổ điển trong bài *Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng)*

- Thể thơ và ngôn ngữ: Cũng viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, mang đậm âm hưởng, niêm luật của thơ cổ.
- Đề tài, thi liệu cổ điển: Viết về đêm rằm tháng Giêng với hình ảnh trung tâm là trăng – thi liệu quen thuộc bậc nhất của thơ Đường; cùng sông xuân, nước xuân, trời xuân (*xuân giang, xuân thủy, xuân thiên*) và hình ảnh con thuyền giữa dòng (*yên ba thâm xứ*). Cụm "yên ba" (khói sóng) gợi trực tiếp tứ thơ cổ điển (thơ Thôi Hiệu, thơ về cảnh sông nước khói sóng).
- Bút pháp chấm phá, không gian cao rộng: Vẽ nên không gian bát ngát, tràn đầy ánh trăng và sắc xuân bằng vài nét gợi; điệp từ xuân ba lần tạo nhạc điệu và mở ra không gian vũ trụ tràn trề sức sống.
- Hình ảnh con người ung dung giữa thiên nhiên: Hình ảnh con thuyền chở trăng, người ngắm trăng – bàn việc quân xong trở về – mang cốt cách phong lưu, thư thái của thi nhân – ẩn sĩ trong thơ cổ, con người hòa hợp với trăng, với vũ trụ.

Khái quát: Cả hai bài đều kết tinh vẻ đẹp cổ điển ở thể thơ tứ tuyệt chữ Hán, ở hệ thống thi liệu – đề tài ước lệ (chim, mây, chiều tà, trăng, sông nước mùa xuân), ở bút pháp chấm phá – gợi tả, tả cảnh ngụ tình và ở phong thái ung dung, hòa hợp với thiên nhiên vũ trụ của chủ thể trữ tình. (Dấu ấn cổ điển này luôn hòa quyện với tinh thần hiện đại – chất "thép", tinh thần lạc quan cách mạng – làm nên vẻ đẹp riêng của thơ Hồ Chí Minh.)

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.