Giải Bài 5 trang 29 SGK Ngữ văn 12
Đề bài
Đọc lại ba văn bản ở Bài 3: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc, Năng lực sáng tạo, Mấy ý nghĩ về thơ và tìm dẫn chứng cho thấy các tác giả đã sử dụng một số biện pháp phù hợp nhằm làm tăng tính khẳng định, phủ định của văn bản.
(văn bản: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc; Năng lực sáng tạo; Mấy ý nghĩ về thơ)
Gợi ý trả lời
Nhắc lại kiến thức: Để làm tăng tính khẳng định hoặc phủ định trong văn nghị luận, người viết thường dùng: (1) từ ngữ phủ định/khẳng định (*không, chưa, chẳng, không thể, không phải…* và *chính, quả thực, rõ ràng, hiển nhiên…*); (2) kết cấu phủ định của phủ định để khẳng định mạnh (*không thể không, không ai không, không phải… mà là…*); (3) điệp từ ngữ, điệp cấu trúc cú pháp; (4) câu hỏi tu từ; (5) trợ từ nhấn mạnh (*chính, ngay cả, đến, cả…*).
a) *Nhìn về vốn văn hoá dân tộc* (Trần Đình Hượu)
Tác giả dùng dày đặc từ phủ định và điệp cấu trúc phủ định để khẳng định một nhận định khách quan về đặc điểm văn hoá dân tộc:
- *“Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật.”* → *không thể* làm luận điểm dứt khoát, thẳng thắn.
- Điệp từ phủ định *không* trong chuỗi câu liệt kê: *“Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển”*; *“Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống”* → nhịp điệp của *không* nhấn mạnh tính “không chuyên biệt, không cực đoan” của văn hoá Việt.
- Kết cấu tương phản: *“Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ.”* → phủ định một vế để làm nổi bật vế kia.
b) *Năng lực sáng tạo* (Phan Đình Diệu)
(Lưu ý: cần trích đúng câu chữ trong SGK; dưới đây nêu các biện pháp để HS đối chiếu và điền dẫn chứng cụ thể từ văn bản.) Tác giả nghiêng về tăng tính khẳng định để định nghĩa và đề cao vai trò của sáng tạo:
- Kết cấu “không phải (chỉ) là… mà là…” để bác bỏ cách hiểu hẹp và khẳng định bản chất đúng về năng lực sáng tạo (vừa phủ định một quan niệm, vừa khẳng định luận điểm trung tâm).
- Trợ từ, quán ngữ tình thái nhấn mạnh (*chính là, thực chất, rõ ràng*) đặt trước luận điểm → làm nhận định thêm dứt khoát.
- Điệp cấu trúc khi liệt kê biểu hiện/ích lợi của sáng tạo, tạo giọng văn khẳng định dồn dập, giàu sức thuyết phục.
(HS tìm câu văn tương ứng trong bài và chép đúng nguyên văn làm dẫn chứng.)
c) *Mấy ý nghĩ về thơ* (Nguyễn Đình Thi)
Văn bản phối hợp cả khẳng định lẫn phủ định, dùng nhiều câu hỏi tu từ và điệp cấu trúc:
- Từ phủ định để bác bỏ cách hiểu cũ: *“Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về thơ, nhưng lời định nghĩa nào cũng vẫn không đủ.”*
- Câu hỏi tu từ: *“Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?”* → thực chất là lời khẳng định cội nguồn của thơ nằm ở tâm hồn.
- Điệp cấu trúc khẳng định “Thơ là…”: *“Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống…”*
- Kết cấu “không phải… mà…” để phân định bản chất của thơ.
Kết luận: Cả ba văn bản đều chủ động dùng *từ ngữ khẳng định/phủ định, kết cấu phủ định của phủ định, điệp cấu trúc, câu hỏi tu từ và trợ từ nhấn mạnh* để làm tăng tính khẳng định, phủ định, khiến quan điểm người viết rõ ràng, dứt khoát và giàu sức thuyết phục.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.
