Sách giáo khoa Ngữ văn 12 Tập một

Giải Câu 3 trang 68 SGK Ngữ văn 12

Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Trần Đình Hượu)   Gợi ý trả lời

Đề bài

“Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật.” – luận điểm này đã được tác giả chứng minh như thế nào? Lập luận của tác giả có sức thuyết phục không? Vì sao?
(văn bản: Nhìn về vốn văn hoá dân tộc - Trần Đình Hượu)

Gợi ý trả lời

a) Tác giả đã chứng minh luận điểm như thế nào?

Để làm sáng tỏ nhận định *"Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật"*, tác giả Trần Đình Hượu không hô hào, không áp đặt mà đi khảo sát một cách toàn diện, khách quan trên hầu khắp các lĩnh vực của văn hoá dân tộc, chỉ ra ở mỗi lĩnh vực đâu là giới hạn của ta:

- Về tôn giáo, triết học: Người Việt không cuồng tín, không cực đoan mà dung hoà các tôn giáo tạo nên sự hài hoà; ta không có những nhà tư tưởng, những học thuyết, những công trình triết học lớn, cũng không tự tạo ra một tôn giáo riêng có tầm ảnh hưởng rộng.

- Về khoa học, kĩ thuật, giáo dục: Không có ngành khoa học, kĩ thuật nào phát triển đến thành truyền thống; âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ; chưa có những phát minh, cống hiến lớn mang tầm nhân loại.

- Về nghệ thuật, thẩm mĩ: Thần thoại không phong phú; thơ ca tuy có nhưng các nhà thơ chưa ai có được địa vị thật cao; nghệ thuật phần nhiều là những công trình tinh tế, duyên dáng chứ không bề thế, kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

- Về quan niệm sống và lối sống: Người Việt trọng sự thiết thực, linh hoạt, dung hoà, hướng vào cái đẹp vừa phải, xinh, khéo, vào sự bình ổn, yên vui; không chuộng cái cực đoan, phi thường, kì vĩ, cũng không mơ mộng viển vông, siêu phàm.

Từ những khảo sát ấy, tác giả rút ra đặc điểm nổi bật của văn hoá Việt Nam: giàu tính nhân bản, tinh tế, hướng tới sự hài hoà trên nhiều phương diện — nhưng cũng chính vì thế mà "không đồ sộ, không có những cống hiến lớn lao, không có những đặc sắc nổi bật" như văn hoá một số dân tộc khác. Luận điểm được chứng minh bằng chính diện mạo thực tế của văn hoá dân tộc.

b) Lập luận của tác giả có sức thuyết phục không? Vì sao?

Lập luận của tác giả có sức thuyết phục cao, vì những lí do sau:

- Thái độ khoa học, khách quan, trung thực: Tác giả nhìn thẳng vào thực tế, không tô vẽ, không tự ti cũng không tự tôn thái quá; vừa chỉ ra giới hạn vừa khẳng định giá trị riêng (sự tinh tế, nhân bản, hài hoà) của văn hoá dân tộc.

- Cách lập luận toàn diện, có hệ thống: Luận điểm được soi chiếu trên nhiều lĩnh vực (tôn giáo, triết học, khoa học, nghệ thuật, lối sống), các dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, giàu sức khái quát.

- Giọng văn điềm tĩnh, biện chứng: Người viết dùng lối nói cân nhắc, nhiều mặt ("không… nhưng…"), vừa phê phán nhẹ nhàng cái hạn chế vừa nâng niu cái đáng quý, khiến người đọc tin cậy.

- Mục đích tích cực: Chỉ ra điểm yếu không phải để tự ti, mà để dân tộc tự ý thức, tự nhìn lại mình nhằm xây dựng, phát triển văn hoá trong thời đại mới. Chính thái độ chân thành, vì sự tiến bộ ấy làm cho lập luận thêm thuyết phục và nhân văn.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.