Giải Câu 7 trang 18 SGK Ngữ văn 12
Đề bài
Sự cảnh báo đối với những toan tính thâm độc của các thế lực thực dân, đế quốc được thể hiện như thế nào trong văn bản? Tác giả đã nêu luận điểm gì để tác động vào cách nhìn của cộng đồng quốc tế về nước Việt Nam mới, dẫn đến việc công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam?
(văn bản: Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh))
Gợi ý trả lời
a) Sự cảnh báo đối với những toan tính thâm độc của các thế lực thực dân, đế quốc
Trong phần cuối của bản Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã ngầm cảnh báo âm mưu quay lại xâm lược của thực dân Pháp và tham vọng của các thế lực đế quốc khác thông qua một chuỗi lập luận chặt chẽ, đanh thép:
- Vạch trần và phủ nhận mọi cơ sở pháp lí mà Pháp có thể viện dẫn. Tác giả tuyên bố dứt khoát: "thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam". Đây là lời cảnh báo trực tiếp: Pháp không còn bất kì danh nghĩa hay quyền lợi hợp pháp nào để trở lại, mọi toan tính "lập lại chế độ bảo hộ" đều vô căn cứ.
- Dùng sự thật lịch sử để bác bỏ luận điệu "khai hóa", "bảo hộ". Người chỉ rõ trong 5 năm (1940–1945) Pháp đã hai lần bán nước ta cho Nhật, quỳ gối đầu hàng, chứ không hề "bảo hộ" được dân ta. Việc này đập tan cái cớ mà Pháp có thể dựa vào để đòi quyền cai trị trở lại.
- Khẳng định tư thế chủ động, cảnh cáo mọi ý đồ xâm phạm. Câu kết "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy" chính là lời tuyên bố quyết tâm chiến đấu, cảnh báo trước rằng bất cứ thế lực nào muốn thôn tính Việt Nam sẽ vấp phải sự kháng cự của cả một dân tộc.
=> Sự cảnh báo được thể hiện vừa kín đáo, khôn khéo (không nêu đích danh kẻ thù) vừa cứng rắn, kiên quyết, cho thấy tầm nhìn xa của tác giả về nguy cơ tái xâm lược.
b) Luận điểm tác động vào cách nhìn của cộng đồng quốc tế
Để buộc thế giới phải công nhận nền độc lập của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nêu các luận điểm then chốt:
- Đặt quyền độc lập của Việt Nam trên nền tảng chân lí, lẽ phải chung của nhân loại. Mở đầu, Người trích Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791) — hai văn kiện mà chính các nước đế quốc tôn thờ — để khẳng định quyền tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam là phù hợp với những nguyên tắc mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận.
- Khẳng định Việt Nam có tư cách chính nghĩa xứng đáng được công nhận. Tác giả nhấn mạnh dân tộc Việt Nam đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít, tự mình giành lại đất nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp: "Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp." Vì thế, một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ, đứng về phía chính nghĩa thì "dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".
- Kêu gọi lương tri và cam kết quốc tế. Người viết: "Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam." Đây là luận điểm dùng chính cam kết của các cường quốc để đặt họ vào thế phải thừa nhận Việt Nam.
- Tuyên bố chủ quyền như một sự thật hiển nhiên, không thể chối cãi. "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập."
=> Bằng hệ thống luận điểm kết hợp lí lẽ nhân loại (chân lí phổ quát) với sự thật lịch sử (tư cách chính nghĩa của dân tộc), Hồ Chí Minh vừa thuyết phục, vừa tạo sức ép buộc cộng đồng quốc tế phải nhìn nhận Việt Nam như một quốc gia độc lập, tự do có đầy đủ cơ sở pháp lí và đạo lí.
Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.
