Sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập một

Giải Bài 1 trang 44 SGK Ngữ văn 9

Nỗi niềm chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm) – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch   Gợi ý trả lời

Đề bài

Chỉ ra những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ. Những đặc điểm này cho thấy thể thơ song thất lục bát có gì khác với thể thơ lục bát?
(văn bản: Nỗi niềm chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm) – Đặng Trần Côn; Đoàn Thị Điểm dịch)

Gợi ý trả lời

a) Những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong đoạn trích

Song thất lục bát là thể thơ do người Việt sáng tạo, mỗi khổ gồm bốn câu: hai câu bảy tiếng (song thất) đứng trước, tiếp đến một câu sáu tiếng và một câu tám tiếng (lục bát). Các đặc điểm ấy hiện rõ trong đoạn trích *Nỗi niềm chinh phụ*:

- Số tiếng và cấu trúc khổ thơ: Mỗi khổ có đủ hai câu 7 tiếng rồi đến câu 6 và câu 8 tiếng. Ví dụ:
> *Chàng thì đi cõi xa mưa gió* (7 tiếng)
> *Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn* (7 tiếng)
> *Đoái trông theo đã cách ngăn* (6 tiếng)
> *Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh* (8 tiếng)

- Cách gieo vần (vừa có vần trắc, vừa có vần bằng; vừa vần chân, vừa vần lưng):
- Tiếng cuối câu thất trên hiệp vần trắc (vần lưng) với tiếng thứ năm của câu thất dưới: *gió* – *cũ*; sang khổ sau: *lại* – *hãy*.
- Tiếng cuối câu thất dưới hiệp vần bằng (vần chân) với tiếng cuối câu lục: *chăn* – *ngăn*; *sang* – *Dương*.
- Tiếng cuối câu lục lại hiệp vần bằng (vần lưng) với tiếng thứ sáu của câu bát: *ngăn* – *ngần*; *Dương* – *Tương*.
- Tiếng cuối câu bát tiếp tục bắt vần (vần bằng) để mở sang khổ thơ sau, nhờ đó mạch thơ nối liền, triền miên không dứt.

- Cách ngắt nhịp: Hai câu bảy tiếng thường ngắt nhịp lẻ 3/4: *Chàng thì đi / cõi xa mưa gió*; *Thiếp thì về / buồng cũ chiếu chăn*. Còn cặp lục bát ngắt nhịp chẵn 2/2/2, 4/4 quen thuộc: *Tuôn màu mây biếc / trải ngần núi xanh*.

- Giọng điệu, nhạc tính: Sự đan xen câu bảy tiếng (nhịp lẻ, có vần trắc) với câu sáu – tám (nhịp chẵn, vần bằng) tạo âm hưởng khi dồn nén trúc trắc, khi mênh mang kéo dài, rất hợp để diễn tả nỗi niềm nhớ thương, sầu muộn triền miên của người chinh phụ khi tiễn chồng ra trận và cảnh chia li đôi ngả (Hàm Dương – Tiêu Tương).

b) Song thất lục bát khác thể thơ lục bát ở những điểm nào

- Về số câu, số tiếng trong khổ: Lục bát chỉ gồm cặp câu 6 – 8 nối nhau; song thất lục bát có thêm hai câu 7 tiếng đứng trước mỗi cặp lục bát, nên khổ thơ gồm bốn câu (7–7–6–8), dài và cân đối hơn.

- Về vần: Lục bát chỉ gieo vần bằng; song thất lục bát có cả vần trắc (ở cặp song thất) lẫn vần bằng (ở cặp lục bát), hệ thống vần lưng – vần chân cũng phong phú, đan cài hơn.

- Về nhịp và nhạc điệu: Lục bát ngắt nhịp chẵn đều đặn, giọng êm ái, uyển chuyển; song thất lục bát có thêm nhịp lẻ 3/4 của câu bảy tiếng xen vào nhịp chẵn, tạo nên sự biến đổi, khi ngưng đọng khi dàn trải. Vì thế song thất lục bát giàu khả năng diễn tả những cung bậc cảm xúc buồn thương, sầu lắng, triền miên — rất thích hợp với thể ngâm khúc như *Chinh phụ ngâm*, điều mà lục bát (thiên về kể, tự sự, trữ tình nhẹ nhàng) khó đạt được như vậy.

Lời giải do Thư viện nhà trường biên soạn, giải và kiểm chéo độc lập theo SGK 2026-2027.