
NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGÔN TỪ VÀ MIÊU TẢ CỦA NGUYỄN DU
TRONG TRUYỆN KIỀU
1. Vấn đề sử dụng từ ngữ, hình ảnh mang tính ước lệ trong Truyện Kiều :
Là nhà thơ thiên tài của dân tộc , Nguyễn Du là người chiụ ảnh hưởng
rất lớn thi pháp cổ điển về khắc hoạ , xây dựng hình tượng nhân vật . Vì thế
ngôn từ ước lệ được sử dụng nhiều trong Truyện Kiều . Cũng giống như người
xưa , nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của thiên nhiên như tuyết - mai , trăng - hoa, mây -
tuyết , thu thuỷ - xuân sơn , hoa - liễu Làm chuẩn mực , làm thước đo giá trị , vẻ
đẹp của con người . Tác giả đã dùng bút pháp cực tả tuyệt đối hoá , lý tưởng
hoá nhan sắc cốt cách hai chị em Kiều . Đó là Mai cốt cách , tuyết iình thần ,
khuôn trăng , nét ngài , hoa cười ngọc thốt , mây thua, tuyết nhường , làn thu
thuỷ, nét xuân sơn , hoa ghen, liễu hờn Để khắc hoạ cái cốt cách thanh tao ,
mảnh dẻ như mai ; tinh thần trong trắng như tuyết. Một vẻ đẹp mười phân vẹn
mười nhưng mỗi người một vẻ của chị em Kiều .
Tả nàng Vân kiều diễm Nguyễn Du dùng : khuôn trăng, nét ngài , hoa
cười, ngọc thốt , mây thua , tuyết nhường cùng vơí một số từ nôm na như khác
vời và những từ ngữ đầy đặn, nở nang vừa khắc hoạ được vẻ đẹp đoan trang,
phúc hậu của nàng Vân , vừa như dự báo được cuộc sống sau này rất bình lặng
của nàng .
Còn với Kiều , Nguyễn Du đã dùng vẻ đẹp của Thuý Vân để bẫy vẻ đẹp
của Kiều . Nhà thơ đã dùng đến 12 câu thơ để khắc hoạ về Kiều . Điều đó chứng
tỏ nhà thơ đã dành cho nhân vật chính của mình một tình cảm hết sức đặc biệt .
Nhiều thi liệu cổ đã được huy động để khắc hoạ bức chân dung tuyệt mỹ của
giai nhân như : Làn thu thuỷ , nét xuân sơn , hoa ghen , liễu hờn Với bút pháp
lý tưởng hoá , Kiều hiện ra trước mắt người đọc bằng hình ảnh một thiếu nữ có
đôi mắt trong sáng , bình lặng như mặt nước hồ thu ; nét mày uốn cong thanh tú
như dáng núi mùa xuân .Thật là một dung nhan rực rỡ , sắc sảo mặn mà , vừa
có duyên, vừa có hồn . Nhưng đẹp đến độ sắc nước hương trời , chim sa cá lặn ,
nước thành nghiêng đổ , hoa phải ghen , liễu phải hờn tất cuộc đời sẽ gặp nhiều
sóng gió, đau khổ Mười lăm năm lưu lạc chìm nổi của Kiều đã chứng minh rõ
ThuVienDeThi.com
điều đó .
Là một nghệ sĩ về ngôn từ , Nguyễn Du không sử dụng những thi liệu
cổ ấy một cách máy móc rập khuôn mà sự sáng tạo của nhà thơ là rất lớn . Nói
tới nỗi buồn của người đẹp , nhà thơ gắn với những thềm hoa ,lệ hoa , rồi nét
buồn như cúc , điệu gầy như mai Nói chung , qua việc sử dụng những thi liệu cổ
nhà thơ đã tạo ra những từ ngữ rất riêng , rất Nguyễn Du , nhưng vẫn là ngôn
ngữ dân tộc .
2. Ngôn từ thiên nhiên (vũ trụ thi ca) của Truyện Kiều .
Theo tác giả Đặng Tiến thì vũ trụ thi ca trong Truyện Kiều là một
không gian với chân trời rộng . Ngoài thảm cỏ non phải xanh tận chân trời (
Cảnh ngày xuân) thì không gian còn là một vũ trụ rộng, trống,mờ xa tít tắp với
vẻ non xa , tấm trăng gần ; với cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia (Kiều ở lầu
Ngưng Bích). Đó là một vũ trụ từ chối cuộc sống, từ chối con người -một vũ trụ
mà cảnh vật bốn bề bát ngát xa trông, bên thì cồn cát nhấp nhô như sóng lượn ,
bên thì bụi hồng trải dài khắp dặm xa mênh mông .
Ngoài ra, trong Truyện Kiều Nguyễn Du còn sử dụng rất nhiều ngôn từ
vũ trụ thi ca : Con đường khuya thì phải ngắt tạnh mù khơi , màu của rừng thu
phải là màu quan san , khung trời thương nhớ phải gợn áng mây Tần xa xa , đến
túp lều cỏ bên sôngTiền Đường cũng phải là Một gian nước biếc mây vàng chia
đôi . Bên cạnh đó còn có những dặm vi lô hiu hắt , những bờ liễu loi thoi ,
những rừng phong quan tái . Rồi đến cảnh màu xanh tơ liễu bên cầu , gió cây
trút lá , mấy ngàn dâu xanh xuất hiện trong Truyện Kiều những giờ phút chia
phôi , những lúc bước chân ngập ngừng , những lúc tâm hồn phân tán Dường
như nhà thơ muốn thu nhận cả đất trời nhân loại bằng cái nhìn phơi trải trong
hình ảnh non phơi bóng vàng , cái nhìn đo lường kích thước cuộc sống hằng
ngày để xác định vị trí ,tầm sống của mình trước cuộc đời .
4 . Về ngôn từ chỉ màu sắc trong …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.