
Phòng giáo dục thanh Ba
Trường THCS Đỗ Xuyên Giáo viên: Lê Anh Tuấn
Đề thi học sinh năng khiếu
Môn: Văn - Tiếng Việt - Lớp 8
Thời gian: 150 phút Năm học: 2009 - 2010
Câu 1: (1,5 điểm)
“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm trương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thân góp gió….”
(Quê hương - Tế Hanh)
Hãy phân tích giá trị biểu hiện của các biện pháp tu từ trong khổ thơ
Câu 2 (1 điểm)
Phân tích cấu tạo ngữ pháp câu sau:
a- Mẹ về khiến cả nhà đều vui
b- Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nốt phải.
Câu 3 (1,5 điểm)
Viết 1 đoạn văn khoảng 15 dòng, trình bày cảm thụ của em về câu thơ sau:
“ Những người muôn năm cũ
Hồn ë đâu bây giờ?
(Ông Đồ - Vũ Đình Liên)
Câu 4 (6 điểm)
Rừng mang lại nhiều lợi ích cho con người. Con người phải bảo vệ rừng. Em
hãy chứng minh
ThuVienDeThi.com
Đáp án chấm Môn: Văn - Tiếng Việt - lớp 8
Thời gian: 150 phút Năm học: 2009 - 2010
Câu 1: (1,5 điểm): Phân tích giá trị biểu hiện của các biện pháp tu từ trong
khổ thơ:
“Chiếc thuyền nhẹ………thân góp gió”
(Quê hương - Tế Hanh)
* Yêu cầu: Phân tích được 3 biện pháp tu từ: So sánh, ẩn dụ, nhân hoá (Mỗi biện
pháp đúng được 0,5 điểm)
a- Dùng biện pháp tu từ so sánh: “Hăng như con tuấn mã” đã làm nổi bật một vẻ
đẹp mạnh mẽ của những con thuyền ra khơi. Con thuyền được so sánh với con tuấn
mã, con tuấn mã ấy đang “hẫng” một trạng thái đầy phấn chấn và mạnh mẽ. Vì thế
mà con thuyền “Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang”. Từ “phăng” đã thúc
đẩy mái chèo và con thuyền băng băng trên sông dài. Thuyền nhẹ, trai tráng khoẻ
mạnh ra biển đầy khí thế sôi nổi và hào hứng.
b- Dùng biện pháp tu từ ẩn dụ: “Mảnh hồn làng”. Hồn làng là 1 cái gì rất trừu
tượng, vô hình. Nó chính là linh hồn của quê hương mà ít nhiều ai cũng cảm thấy.
Nó còn là tâm hồn phóng khoáng mở rộng của người dân làng chài ë nơi lộng gió
biển khơi. Là tình yêu tha thiết của mỗi con người dành cho quê hương hoà quyện
trong tất cả cảnh vật, con người, lịch sử của làng. Cái hay của từ “Mảnh” ghép với
“hồn làng” tạo cho cái trừu tượng vô hình ấy thành một cái cô thể, hữu tình, sinh
động. Cảnh so sánh của câu thơ làm rõ thêm điều ấy. “Cánh buồm” là một sự vật cô
thể, hữu tình, hữu hạn, có thể đo được đem so sánh với “hồn làng”, cái vô hình, vô
vạn, không đo được thành cái hữu hạn (cánh buồm) trở nên vô hạn (hồn làng) và
cái vô hạn (hồn làng) được cô thể hoá trong “mảnh” cô thể sinh động ấy.
c- Dùng biện pháp tu từ nhân hoá “Cánh buồm trương” vươn thân trắng bao la thâu
góp giãi” với biện pháp nhân hoá, cánh buồm hiện lên với vẻ đẹp cường tráng,
khoáng đạt lại sinh động, gần gũi như con người làng chài yêu gió lộng biển khơi.
Câu 2: (1 điểm) Phân tích cấu tạo ngữ pháp
a. Mẹ về/ khiến cả nhà đều vui
CN VN CN VN
CN VN (0,5 điểm)
ThuVienDeThi.com
b. Bao bì ni lông trôi ra biển/ làm chết các sinh vật khi chúng nốt phải
Câu 3: (1,5 điểm): Trình bày cảm thụ về câu thơ
“Những người muôn năm cũ
Hồn ë đâu bây giờ?”
ý 1 (0,75điểm): - Đây chính là nỗi bâng khuâng tiến thương của nhà thơ, khi
ông hoài niệm về một di tích tàn tạ của nền Nho học. Những người muôn năm cũ,
trong đó có ông đồ, có những người mến chuộng Nho học, có người yêu thích câu
đối đỏ. Giờ tuy không còn nữa, thế nhưng cái tinh thần dân tộc, cái “hồn nước”,
“hồn” quê hương không bao giờ mất ấy đang ë đâu? Câu hỏi như xoáy vào lòng
người đọc gợi nhớ về hình ảnh ông đồ, mà chúng ta vô tình quên nó, bởi đó cũng là
một di sản văn hoá dân tộc mà chúng ta cần gìn giữ
ý 2 (0,75 điểm)
Hai câu thơ như 1 lời nhắc nhở thế hệ trẻ: Trong cuộc chuyển mình của đất
nước, có những “cái đẹp”, cái nét “cổ truyền” của dân tộc không thể đánh mất mà
phải được giữ lại, được sống mãi với đất nước, dân tộc ta.
Câu 4 (6 điểm)
Yêu cầu:
- Về phương pháp: Chứng minh một vấn đề
- Phạm vi tư liệu: lấy dẫn chứng từ thực tế đời sống
- Về nội dung: Gồm 2 ý chính
1 là: Rừng mang lại lợi ích cho con người
2 là: Con người phải bảo vệ …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.