
1
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi kế tiếp
THƯƠNG VỢ - BÀI THƠ TRỮ TÌNH, TRÀO PHÚNG ĐẬM SẮC DÂN
GIAN CỦA TÚ XƯƠNG
(Nguyễn Quốc Túy)
Thương vợ (Trần Tế Xương)
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
[...]
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha me thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!
Tình cảm thương vợ của Tú Xương trước hết được biểu hiện ở câu thơ đầu tức
là ở hai câu để qua việc nhà thơ tạo dựng hình ảnh một bà vợ buôn bán, tần tảo
nuôi chồng nuôi con.
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi dù năm con với một chồng
Hai câu mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường là hai câu vào
để, thế mà hai câu đề của bài thơ này lại mang sắc thái của hai câu thực”: cho
bạn đọc thấy nỗi vất vả, khó nhọc của người vợ. Về thời gian nỗi vất vả đó là
“quanh năm”, nghĩa là ngày nào, tháng nào cũng như vậy. Về không gian đó là
ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 – ĐỀ 8
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11
Thời gian làm bài: 90 phút
BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM
2
địa điểm sầm uất Bà Tú cũng không có nốt một cái lều, một gian hàng buôn bán
ổn định ở cửa chợ, đình chợ. Bà buôn bán ở nơi có thế đất chênh vênh, hiểm trở.
Cũng ở ngay hai câu thơ đầu, nhà thơ đã nói được một cách cụ thể về công lao
to lớn của bà Tú:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Chúng ta chú ý các từ ngữ : nuôi đủ, năm, một. Như vậy là bà Tú đã nuôi đủ 6
người. Chúng ta thấy thấp thoáng nụ cười trào lộng hay đúng hơn là nụ cười tự
trào của nhà thơ qua cách tính đếm của ông : Năm con với một chồng. Chồng
cũng như con phải để vợ nuôi.
Ta biết Tú Xương là nho sĩ, là học trò chữ nho thời xưa đi thị và hỏng mãi, cuối
cùng mới đậu được tú tài.
Nụ cười tự trào của Tú Xương, cách đánh giá mình sống nhờ vợ như lũ con :
“năm con với một chồng” có cái gì rất gần gũi với câu ca dân gian “Dài lưng
tốn vải ăn no lại nằm”. Biết đánh giá đúng thực trạng kém cỏi của mình, biết
công lao vợ phải nuôi mình và cả năm đứa con, đó là nét đẹp của nhân cách Tú
Xương được biểu hiện qua nụ cười tự trào của ông.
Đây là hai câu “thực” đã khắc họa thành công hình ảnh bà Tú vất vả ở chi tiết
nghệ thuật hình ảnh : “lặn lội thân cò”.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Nó gợi ta nhớ đến câu ca dao :
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Rồi các câu: “Con cò mà đi ăn đêm”, “cò dò bắt tép”... Cả câu thơ: “Lặn lội
thân cò khi quãng vắng” làm hiện lên trong trí tưởng tượng của ta hình ảnh một
bà Tú lặn lội đêm hôm buôn bán vật và để nuôi con, nuôi chồng giống như biểu
tượng hình ảnh những con cò trong thơ ca dân gian. Biểu tượng đó còn sâu đậm
thêm khi ta đọc tiếp câu thơ : “Eo sèo mặt nước buổi đò đồng”, Hình ảnh bà Tú
“lặn lội”
3
gắn với “quãng văng”, gắn với “mặt nước” cũng giống như hình ảnh con có
trong thơ ca dân gian gắn với “ăn đêm”, “cò dò bắt tép”, “lặn lội bờ sông”. Tóm
lại, ở hai câu thơ này, Tú Xương đã sử dụng một số “tín hiệu nghệ thuật” thơ để
nói về nỗi vất vả, khó nhọc của người phụ nữ nông thôn trước đây.
Chính nhờ những phương tiện biểu hiện nghệ thuật của văn học dân gian nên ở
một phương diện và mức độ nào đó, hình ảnh của bà Tú ở hai câu thơ này cũng
mang ý nghĩa tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, đảm đang.
Đây là hai câu “luận”, “bàn” về nỗi vất vả khó nhọc, đức tính chịu đựng của bà
Tú. Nó cũng là lời thơ biểu hiện tâm trạng của bà Tú :Chịu đựng, không phàn
nàn, oán trách, kêu ca.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công
Bài thơ không phải là lời “tự bạch” của bản thân bà Tú mà là lời kể, lời tả bà Tú
của Tú Xương. Nhưng tác giả Tú Xương sau khi tả, kể, dựng lại hình ảnh của
vợ đã chửi ai vậy ? Nhà thơ chửi “thói đời ăn ở bạc”, “có chồng hờ hững cũng
như không”, nghĩa là nhà thơ chửi thói đời vì cái thói đời ấy mà bà Tú có chồng
cũng như không, chồng chẳng giúp được gì thậm chí bà còn phải nuôi …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.