
1
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm):
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Hải An mới chỉ 7 tuổi khi quyết định hiến giác mạc. Em biết mình sẽ không
qua khỏi bởi căn bệnh ung thư thần kinh đệm cầu não lan tỏa. Giác mạc của em
hiện đã đem lại ánh sáng cho 2 bệnh nhân nhưng nghĩa cử cao đẹp ấy của cô bé
vẫn vấp phải nhiều luồng ý kiến trái chiều.
Bên cạnh sự ngưỡng mộ, tri ân của nhiều người với cô bé, có những người tỏ
ra hoài nghi rằng không biết quyết định đó có thực sự của Hải An không, cũng có
người tỏ ý phản đối việc gia đình để cô bé 7 tuổi hiến giác mạc. Bởi theo quan
niệm trần sao âm vậy của người phương Đông, người sang thế giới bên kia rồi
vẫn cần lành lặn. Gia đình để cô bé cho đi đôi mắt, bước sang thế giới bên kia,
Hải An lấy đâu ra mắt để nhìn?
Biết rõ những thắc mắc ấy, chị Thùy Dương khẳng định, hiến giác mạc hoàn
toàn là quyết định của Hải An và chị chỉ làm theo di nguyện của con. Vốn sinh
trưởng trong một gia đình có truyền thống ngành y, từ ngày nhỏ, Hải An đã biết
đến hiến xác qua câu chuyện bâng quơ hàng ngày với bà, với mẹ..., cô bé đã muốn
hiến toàn bộ tạng và hiến giác mạc khi biết mình mắc bệnh trọng... Tôn trọng
quyết định của cô gái nhỏ, chị Thùy Dương đã làm tất cả để thực hiện di nguyện
của bé. Nhắc về Hải An, chị Thùy Dương tự hào: "Hải An có đôi mắt rất sáng,
nhưng tâm Hải An còn sáng hơn nhiều"
ĐỀ THI CUỐI HỌC KÌ 2 – ĐỀ 4
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 12
Thời gian làm bài: 90 phút
BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM
2
...Câu chuyện hiến giác mạc của cô bé 7 tuổi thực sự là một điều tử tế truyền
cảm hứng mạnh mẽ. Ông Hoàng (Giám đốc Ngân hàng Mắt - Bệnh Viện Mắt
TW) cho biết, từ quyết định hiến giác mạc của Hải An, đến nay đã có đến hơn
1.300 đơn đăng ký. Ngay cả chị Dương cũng đã hoàn tất việc đăng ký giác mạc
của mình. Chị Dương kể rằng rất nhiều người đã chia sẻ với chị, sự ra đi của bé
Hải An đã thay đổi họ. Có người tâm sự với chị rằng "Em đã từng ăn chơi trác
táng, nhưng sau khi biết chuyện của Hải An, em biết rằng cuộc sống này rất đáng
quý. Nếu em bảo quản thân thể của em khỏe mạnh, em sẽ mang lại sự sống cho
người khác".
(Nguồn: Kênh 14.Vn)
Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản. (0,5đ)
Câu 2. Chỉ ra thao tác lập luận chủ yếu được sử dụng trong văn bản. (0,5đ)
Câu 3. Vì sao khi nhắc về Hải An, chị Thùy Dương tự hào: "Hải An có đôi mắt
rất sáng, nhưng tâm Hải An còn sáng hơn nhiều"?(1,0đ)
Câu 4. Hành động cao đẹp của bé Hải An đã truyền cảm hứng như thế nào trong
xã hội? (1,0đ)
PHẦN II. LÀM VĂN
Câu 1 (2,0 điểm):
Từ câu chuyện của bé Nguyễn Hải An, anh/ chị có suy nghĩ gì về giá trị của hạnh
phúc khi được cho đi? Hãy trình bày suy nghĩ của mình bằng một đoạn văn ngắn
khoảng 200 chữ.
Câu 2 (5,0 điểm):
3
Cảm nhận của anh/ chị về đoạn kết sau đây trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài
xa của Nguyễn Minh Châu:
Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi
vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái
lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu
hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và
nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm
ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch,
tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã
nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm
trên mặt đất, hòa lẫn trong đám đông …
(Sách Ngữ văn 12- tập 2, trang 78, NXB Giáo dục, năm 2011)
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.