
SỞ GD & ĐT TP. HỒ CHÍ MINH KẾ HOẠCH KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ 2 Trường THPT Phước Long NĂM HỌC: 2024 – 2025 MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 10
I. HÌNH THỨC KIỂM TRA:
+ Phần đọc: 05 câu tự luận (6,0 điểm) + Phần viết: 01 câu tự luận (4,0 điểm)
II. NỘI DUNG ÔN TẬP:
T T
Chương/
Chủ đề
Nội dung/Đơn
vị kiến
thức
Mức độ đánh giá(1)
Số câu hỏi theo mức độ nhận
thức
Nhận
biết
Thông
hiểu
Vận dụng
Vận dụng
cao 1
Đọc hiểu Đọc hiểu
văn bản ngoài SGK cùng thể loại: Văn bản nghị luận
Nhận biết: (2,5 điểm)
- Xác định phương thức biểu đạt chính, chỉ ra ngữ liệu trong văn bản.
- Nhận biết luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu, yếu tố biểu cảm trong văn bản.
2TL
Thông hiểu: (2,0 điểm) - Phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ, cách dùng từ, yếu tố biểu cảm; giải thích ý nghĩa từ ngữ, hình ảnh, câu văn,.. - Xác định nội dung/chủ đề, mục đích, quan điểm người viết… thể hiện trong văn bản. - Phân tích được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản. - Phân tích được bối cảnh lịch sử hoặc bối cảnh văn hóa xã hội.
2 TL
Vận dụng cao: (1,5 điểm) - Phân tích được ý nghĩa hay tác động của văn bản văn học trong việc làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm, cách nhìn và cách thưởng thức, đánh giá của cá nhân đối với văn học và cuộc sống. - Quan điểm sâu sắc, khả năng lý giải thuyết phục, sâu sắc, có liên hệ với hiểu biết về xã hội.
1 TL
2 Viết Viết văn bản nghị luận xã hội (khoảng 500 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen có hại; một quan niệm sai lệch, phiến diện.
- Nhận diện đúng kiểu đề: nghị luận xã hội về một vấn đề trong tác phẩm văn học. - Viết được một văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội; trình bày rõ quan điểm và hệ thống các luận điểm, có cấu trúc chặt chẽ; sử dụng các bằng chứng thuyết phục: chính xác, tin cậy, đầy đủ.
1*
1*
1*
1*TL
Tổng 3TL 3TL 2TL 1TL Tỉ lệ % 35 30 25 10 Tỉ lệ chung 70 30 III. ĐỂ MINH HỌA:
Họ và tên thí sinh:……………………………………Số báo danh…………………………... I. PHẦN ĐỌC (6,0 điểm) Đọc văn bản sau:
VĂN HÓA ĐỌC TỪ GÓC NHÌN ỨNG XỬ (1)Việt Nam có văn hóa đọc hay không? Chắc chắn là từng có, bởi từ rất lâu người xưa đã đề cao vai trò của sách khi cho rằng: “Thư trung hữu ngọc” (Trong sách có ngọc), hay “Vạn ban giai hạ phẩm/ Duy hữu độc thư cao” (Mọi việc đều thấp kém, duy chỉ có đọc sách là cao quý). Nhà bác học Lê Quý Đôn có câu: “Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng/ Không bằng kinh sử một vài pho”... Tiếp nối truyền thống ấy, trong tác phẩm “Văn hóa đọc ở Hà Nội xưa và nay”, nhà nghiên cứu văn hóa Giang Quân cũng khẳng định: “Ở Hà Nội trước đây, các gia đình phần lớn đều có giá sách, tủ sách, dùng chung cho cả nhà. Các nhà giáo, nhà văn, nhà khoa học thường có cả phòng đọc sách riêng đồng thời cũng là phòng làm việc của chủ nhân. Văn hóa đọc trở thành nếp quen cho mọi thành viên trong gia đình. Những sách quý, sách giá trị đều được đóng bìa cứng, gáy vải hoặc gáy da mạ chữ vàng, ngoài tên tác giả, tên sách, còn có tên tủ sách gia đình... Bên trong lại có dấu son “Tủ sách gia đình” rất trang trọng đóng ở trang bìa giả... Tủ sách gia đình các nhà nho có sách chữ Hán, chữ Nôm; gia đình trí thức mới có sách tiếng Pháp xuất bản ở nước ngoài, các loại từ điển. Văn hóa đọc ngày ấy thành nếp quen của người Hà Nội”. Những năm sau ngày hòa bình lập lại (1954), đời sống còn nhiều khó khăn nhưng hẳn có một thế hệ người Hà Nội không thể nào quên những tháng năm tuổi trẻ của mình gắn bó với những thư viện rợp bóng cây và sự tĩnh lặng trong phòng đọc. Đó là những khoảnh khắc yên bình. Dưới ánh đèn điện tù mù, dòng điện không ổn định của thời bao cấp, bên cái quạt tai voi, từng con chữ in trên trang giấy ngả màu vàng đục, nhỏ xíu nhưng có sức hút lạ kỳ...
(2)Bước vào thời hội nhập, giao thoa giữa nhiều luồng văn hóa, nhiều người lại đặt câu hỏi: Văn hóa đọc đang chịu sức ép thế nào trước quá nhiều sức hấp dẫn từ các loại hình thông tin khác? Đã có những nỗ lực nào để thúc đẩy văn hóa đọc từ góc độ ứng xử với …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.