Quảng cáo
Đề cương ôn tập Học kì 2 KTPL 11 năm 2023–2024 trường THPT Việt Đức (Hà Nội)
QR

Đề cương ôn tập Học kì 2 KTPL 11 năm 2023–2024 trường THPT Việt Đức (Hà Nội)

Nguồn: vietjack.com

Xem trước nội dung

7

TRƯỜNG THPT VIỆT ĐỨC ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA HK2

MÔN GDKT&PL: KHỐI 11

Năm học 2023 – 2024 (Đề cương định dạng theo mẫu đề thi THPT Quốc Gia 2025)

I. LÝ THUYẾT BÀI 11. QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC 1. Một số quy định cơ bản của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các dân tộc a) Bình đẳng về chính trị Về chính trị. Các dân tộc đều có quyền, có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, tham gia vào việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước, tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước b) Bình đẳng về kinh tế Các dân tộc được Đảng, Nhà nước bảo đảm và tạo mọi điều kiện để có cơ hội phát triển về kinh tế. Ngoài việc ban hành đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội đặc thù. Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đầu tư, tạo các điều kiện phát triển tốt nhất cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các dân tộc thiểu số và miền núi cần phát huy nội lực, tự vươn lên làm giàu cùng phát triển với đất nước. c) Bình đẳng về văn hóa, giáo dục Các dân tộc được Đảng, Nhà nước tạo mọi điều kiện để mỗi dân tộc gìn giữ, phát huy và phát triển bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, của mình. Những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của dân tộc được giữ gìn, khôi phục và phát huy. Các dân tộc bình đẳng về cơ hội học tập, trong tiếp cận, thụ hưởng các giá trị văn hoá, giáo dục, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau trong phát triền giáo dục. 2. Ý nghĩa của quyền bình giữa các dân tộc đối với đời sống con người và xã hội. Bình đẳng giũa các dàn tộc là cơ sở của đoàn kết giữa các dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo điều kiện để mỗi dân tộc đều có cơ hội phát triển, phát huy được nhũng điểm tích cực, những yếu tố đạo đức, văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình; nêu cao ý thức, trách nhiệm đối với quê hương đất nước; củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc; động viên, phát huy các nguồn lực của các dân tộc khác nhau cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

BÀI 12. QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC TÔN GIÁO 1. Một số quy định cơ bản của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các tôn giáo a) Bình đẳng về quyền

Các tôn giáo, tổ chức tôn giáo có quyền bình đẳng trong hoạt động tôn giáo, tổ chức sinh hoạt tôn giáo, xuất bản kinh sách và các ấn phẩm vể tôn giáo, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hoá phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo, nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tự nguyện tặng cho,... Những nơi thờ tự của các tôn giáo được pháp luật bảo hộ. b) Bình đẳng về nghĩa vụ

Các tổ chúc, cá nhân tham gia hoạt động tôn giáo của các tôn giáo khác nhau ngoài việc phải tuân thủ hiến chương, điều lệ, các quy định tôn giáo của tổ chức mình thì còn phải bình đẳng trong việc tuân thủ các quy định của Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các quy định pháp luật khác có liên quan của Nhà nước Việt Nam. c) Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý

Các tổ chức tôn giáo, cũng như người theo các tôn giáo khác nhau dù ở bất kì cương vị nào nếu vi phạm pháp luật cũng đều bị xử lí theo pháp luật. 2. Ý nghĩa của quyền bình giữa các tôn giáo đối với đời sống con người và xã hội.

Thực hiện quyền bình đẳng giữa các tôn giáo thể hiện chính sách đại đoàn kết tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, tạo điều kiện để các tôn giáo, tín đồ tôn giáo nêu cao ý thức, trách nhiệm của mình đối với việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết giữa các tôn giáo, làm tròn trách nhiệm với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo”.

Động viên, phát huy nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời cũng là điểu kiện để mỗi tôn giáo phát huy được nhũng điểm tích cực, những yếu tố đạo đức, văn hoá tốt đẹp, hướng con người tới chân - thiện - mĩ.

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo