Biên mục — ghi nhan đề, tác giả, nhà xuất bản, năm, số trang, phân loại… cho từng đầu sách — là việc tốn thời gian nhất khi nhập sách mới. Với sách có ISBN, phần lớn thông tin ấy đã có sẵn trong các cơ sở dữ liệu thư mục; thủ thư chỉ cần quét mã và kiểm tra lại.
1. ISBN là gì?
ISBN (International Standard Book Number) là mã số tiêu chuẩn quốc tế cho sách, in ở bìa sau (thường kèm mã vạch) và ở mặt sau trang tên sách.
Từ năm 2007, ISBN có 13 chữ số, thường bắt đầu bằng 978 hoặc 979. Sách Việt Nam có nhóm mã quốc gia 604 sau tiền tố 978,
ví dụ 978-604-….
| Phần | Ý nghĩa |
|---|---|
| 978 / 979 | Tiền tố (sản phẩm là sách) |
| 604 | Nhóm quốc gia/ngôn ngữ (Việt Nam) |
| Phần tiếp theo | Mã nhà xuất bản |
| Phần tiếp theo | Mã xuất bản phẩm |
| Chữ số cuối | Số kiểm tra |
Mỗi lần tái bản có thay đổi nội dung, hoặc mỗi tập của bộ sách, có thể mang ISBN riêng. Hai cuốn cùng tên nhưng khác ISBN là hai đầu sách khác nhau khi biên mục.
2. Quét ISBN để biên mục
- Quét mã vạch ISBN ở bìa sau bằng đầu đọc hoặc camera điện thoại.
- Phần mềm tra cơ sở dữ liệu thư mục và điền sẵn: nhan đề, tác giả, nhà xuất bản, năm, số trang, khổ, có khi cả ký hiệu phân loại và tóm tắt.
- Thủ thư kiểm tra lại với sách thật (nhất là năm xuất bản, lần tái bản), bổ sung thông tin còn thiếu, chọn kho và số bản.
3. Sách không có ISBN thì sao?
Tài liệu nội bộ, sách cũ, sách tặng in riêng… thường không có ISBN. Khi đó biên mục tay theo trang tên sách; với các bản giống nhau nhập một lần rồi tăng số bản. Phần mềm còn gợi ý từ những biểu ghi trùng tên đã có trong hệ thống để khỏi gõ lại.
4. Trên phần mềm Thư viện nhà trường
Trang nhập sách có ô quét ISBN dùng được bằng điện thoại; dữ liệu thư mục lấy từ kho biên mục chung (hàng trăm nghìn biểu ghi, trong đó có biểu ghi từ Thư viện Quốc gia), kèm gợi ý ký hiệu phân loại DDC. Xem thêm quy trình xử lý sách mới.
